Giáo trình lịch sử Nhật Bản nhập môn

GIÁO TRÌNH LỊCH SỬ NHẬT BẢN NHẬP MÔN

( Từ Nguên thuỷ đến Hiện đại )

 

日本史入門

原始 ~ 現代

CHƯƠNG I: THỜI ĐẠI NGUYÊN THUỶ (原始時代(げんしじだい))

Từ Bài 1 đến hết Bài 3

CHƯƠNG II: THỜI YAMATO 大和時代(やまとじだい)

Từ Bài 4 đến hết Bài 6

CHƯƠNG III: THỜI ĐẠI NARA (奈良時代(ならじだい))

Từ Bài 7 đến hết Bài 9

CHƯƠNG IV: THỜI HEIAN 平安時代(へいあんじだい)

Từ Bài 10 đến hết Bài 12

CHƯƠNG V: THỜI KAMAKURA 鎌倉時代(かまくらじだい)
 Từ Bài 13 đến hết Bài 14

CHƯƠNG VI: THỜI KỲ MUROMACHI (室町時代(むろまちじだい))

Từ Bài 15 đến hết Bài 17

CHƯƠNG VII: THỜI KỲ AZUCHI-MOMOYAMA(安土桃山時代(あづちももやまじだい))

Từ Bài 18 đến hết Bài 19

CHƯƠNG VIII: THỜI ĐẠI EDO (江戸時代(えどじだい))

Từ Bài 20 đến hết Bài 29

CHƯƠNG IX: THỜI ĐẠI MINH TRỊ (明治時代(めいじじだい))

Từ Bài 30 đến hết Bài 37

CHƯƠNG X: THỜI TAISHO VÀ SHOWA (大正(たいしょう)昭和時代(しょうわじだい))

Từ Bài 38 đến hết Bài 42

PHẦN DẪN NHẬP: PHÂN KỲ LỊCH SỬ NHẬT BẢN

            Trong việc phân chia các thời kỳ của lịch sử Nhật bản, các nhà khoa học lịch sử của Nhật có nhiều cách phân chia khác nhau, tuỳ theo quan niệm đánh giá tầm quan trọng của các sự kiện lịch sử mà họ cho rằng có ảnh hưởng làm thay đổi dòng lịch sử của Nhật bản. Tuy nhiên, cách phân chia sau đây được xem là phổ biến nhất, và được nhiều nhà khoa học đồng tình.

            Lịch sử Nhật bản được chia làm 6 Thời đại:

                 1.      THỜI ĐẠI NGUYÊN THUỶ (原始時代げんしじだい ): từ đầu cho đến TK3 sau Công nguyên.

                 2.      THỜI CỔ ĐẠI 古代こだい: từ TK3 sau CN cho đến năm 1192

                 3.      THỜI TRUNG THỂ中世ちゅうせい: từ năm 1192 cho đến năm 1573

                 4.      THỜI CẬN THẾ近世きんせい: từ năm 1573 cho đến năm 1868

                 5.      THỜI CẬN ĐẠI近代きんだい: từ năm 1868 cho đến 1945

                 6.      THỜI HIỆN ĐẠI現代げんだい: từ năm 1945 cho tới nay

Những năm bắt đầu và kết thúc của mỗi Thời Đại là những năm cực kỳ quan trọng, vì chúng đánh dấu sự bắt đầu và kết thúc của tính chất xã hội và chính trị của Thời Đại đó trong dòng tiến hoá của Lịch sử Nhật Bản.

Chúng ta hãy xem Bảng NHẤT LÃM BIỂU về Phân kỳ Lịch sử Nhật Bản ở trang 3.

 

CHƯƠNG I: THỜI ĐẠI NGUYÊN THUỶ (原始時代(げんしじだい))

Thời đại Nguyên thuỷ của NB kéo dài từ 10.000 năm trước đây cho đến Thế kỷ thứ 3 sau Công nguyên, và chia ra làm 2 thời kỳ: Thời Jomon (từ đầu đến TK3 trước CN) và thời Yayoi (từ TK3 tr.CN đến TK3 sau CN). Xã hội theo chế độ Công xã thị tộc.

 BÀI 1: CÁC BÃI VỎ SÒ 貝塚かいづか

            Chuỗi đảo Nhật Bản, xưa kia vốn gắn liền với lục địa Châu Á; nhưng vào khoảng 10.000 năm trước đây, tức là khi thời kỳ bang hà Wurm kết thúc, băng ở hai địa cực và băng trên núi tan ra làm cho mực nước biển dâng lên, đã ngăn cách chuổi đảo nầy với lục địa Châu Á, và nó có hình dáng như ngày nay. Những con người đã sinh sống ở đây vào thời ấy là tổ tiên của người Nhật ngày nay; nhưng họ từ đâu tới, điều này cho đến nay vẫn chưa được làm sáng tỏ.

            Những con người của thời kỳ nầy, quây quần chừng 5~7 hộ, trên những gò đất cao, sinh sống bằng cách săn bắt, đánh cá, hái lượm. Để dựng nhà ở thì họ đào một cái hố tròn (sâu chỉ độ 0,4 ~ 0,5 mét; đường kính chừng 4 mét); ở đó họ dựng lên những cây cột, mái nhà thì lợp bằng cỏ. Người ta gọi đây là kiểu cư trú 竪穴式住居(たてあなしきじゅうきょ). Những vỏ sò sau khi ăn xong, người ta đem quăng bỏ ở gần nhà, lâu ngày tích tụ lại thành ra những bãi vỏ sò貝塚(かいづか). Những bãi vỏ sò này ngày nay vẫn còn tồn tại ở khắp nơi trên đất nước Nhật. Khi khai quật những bãi vỏ sò này, người ta thấy xuất hiện những dụng cụ đồ đá và những đồ gốm trang trí hoa văn mắt dây thừng縄文式土器(じょうもんしきどき); nhờ đó người ta biết được tình trạng sinh hoạt của người đương thời.

            Người thời đó tin tưởng rằng tất cả các vật trong thiên nhiên như đá, cây cỏ, động vật… đều có linh hồn (bái vật giáo/ animisme). Họ sợ hãi chúng, và họ dùng bùa chú để làm dịu sự phẩn nộ của các linh hồn, cầu nguyện sự an bình cho cuộc sống.

            Thời kỳ này kéo dài khoảng 8000 năm, cho tới TK3 tr.CN. Người ta lấy tên Đồ Gốm kiểu Jomon(縄文式土器), để đặt tên cho thời kỳ này là Thời kỳ Jomon縄文式土器(じょうもんしきどき)

Câu hỏi:

1/ Chuổi đảo Nhật Bản bắt đầu có hình dạng như hiện nay là từ lúc nào?

2/ Người thời nguyên thuỷ sống trong những căn nhà như thế nào?

3/ 貝塚là gì?

4/ Đồ gốm 縄文式là loại đồ gốm như thế nào?

BÀI 2: SỰ BẮT ĐẦU CỦA NGHỀ TRỒNG LÚA

            Đến khoảng TK3 tr.CN, nghề trồng lúa bắt đầu, những dụng cụ kim loại bằng đồng và sắt cũng được sử dụng. Những kỹ thuật này được truyền từ lục địa sang. Ngày nay, chúng ta có thể hiểu được tình trạng canh tác lúa của người thời đó, là nhờ những bức hình được khắc trên các chuông đồng 銅鐸(どうたく).Những chuông đồng được phát hiện rất nhiều trong các di tích của thời đại này, và người ta nghĩ rằng có lẽ chúng được dùng trong các lễ hội.

            Người thời này, để canh tác lúa, họ bắt đầu xuống sống ở miền đất thấp, và thành lập làng xóm. Di tích TORO (登呂遺跡(とろいせき)) ở thành phố Shizuka (静岡市(しずおかし)) hiện còn lưu truyền tình trạng của thời này. Di tích nầy hiện còn lưu lại dấu vết về nhà ở, về những ruộng lúa nước, cùng với những nông cụ bằng gỗ và những kho lẫm kiểu cao sàn (高床式倉庫(たかゆかしきそうこ)) để cất giữ lúa không cho chuột vào phá.

            Đồ gốm thời nầy có hình dáng bền chắc hơn thời trước. Những đồ gốm nầy lần đầu tiên được phát hiện ở Phường YAYOI (弥生町(やよいちょう)) thuộc Quận BUNKYOU (文京区(ぶんきょうく)) ở Thủ đô Tokyo, cho nên người ta gọi là Đồ gốm kiểu Yayoi (弥生式土器(やよいしきどき)). Và quảng thời gian 600 năm từ TK3 tr.CN đến TK3 sau CN được gọi là Thời kỳ Yayoi (弥生時代(やよいじだい))

Câu hỏi:

1/ Nghề trồng lúa bắt đầu khoảng TK thứ mấy?

2/ Kỹ thuật trồng lúa và kỹ thuật chế tạo dụng cụ kim loại bằng đồng và sắt từ đâu truyền sang?

3/ Người thời Yayoi trồng lúa ở ruộng nước hay ruộng khô?

4/ Di tích Toro còn lưu giữ những gì?

BÀI 3 : NỮ VƯƠNG HIMIKO卑弥呼(ひみこ)

Đến khoảng TK1 ~ TK3 sau CN, việc trồng lúa phát triển, làng xóm dần dần lớn hơn và được gọi là Xứ(国(くに)). Những thủ lĩnh có thế lực trở thành Chúa(王(おう)) của một Xứ, và chinh phục các Chúa yếu hơn, để mở rộng thành các Xứ lớn hơn nữa. Chúng ta không biết nhiều về tình hình của thời kỳ lịch sử này; nhưng trong quyển sách sử cổ của Trung quốc là quyển Hậu Hán Thư(後漢書(ごかんじょ)) có viết rằng : “Vào năm Kiến Vũ Trung Nguyên đệ 2 niên ( tức năm 57 sau CN), có sứ giả đến từ Xứ của người WA (tức người Nhật ngày nay) để phụng cống; nên Hán Đế (tức Hán Quang Vũ) đã ban cho Ấn Vàng (金印(きんいん) / Kim Ấn)”.

Cách nay hơn 200 năm về trước, vào thời EDO (江戸時代(えどじだい)), ở tỉnh Fukuoka(福岡県(ふくおかけん)), một người nông phu ngẫu nhiên tìm thấy Ấn Vàng trong lòng đất, khi tu sửa mảnh ruộng của mình. Trên Ấn Vàng có khắc chữ 「漢委奴国王(かんのわのなのこくおう)」. Vì thế, người ta nghĩ rằng có lẽ đây là một tiểu quốc nằm ở miền phụ cận thành phố Hakata(博多(はかた)), thuộc tỉnh Fukuoka.

Tình hình nước Nhật sau đó được viết kỹ hơn trong một quyển sách sử cổ của Trung Quốc là quyển Ngụy Chí(魏志(ぎし)), ở phần Truyện Người Wa(倭人伝(わじんでん)). Theo sách này, thì Xứ của người Wa lúc bấy giờ được chia ra khoảng 30 tiểu quốc; trong đó Xứ YAMATAI(邪馬台国(やまたいこく)) của Nữ vương HIMIKO(卑弥呼(ひみこ)) là hùng mạnh nhất, và Nữ vương Himiko vào đầu TK3 (năm 239) đã gởi sứ giả sang Ngụy. Xứ Yamatai lúc bấy giờ nằm ở đâu trên đất Nhật? Điều này, hiện nay việc tranh luận vẫn chưa ngã ngũ.

Câu hỏi :

1/ Sách Hậu Hán Thư có ghi chép điều gì liên quan tới nước Nhật?

2/ Sách Ngụy Chí ghi chép điều gì liên quan tới nước Nhật?

3/ Himiko là Nữ vương của Xứ nào?

4/ Hãy trình bày 2 thuyết chính về vị trí của Xứ Yamatai.

CHƯƠNG II :  THỜI YAMATO ( 天(や)和(もと)時(じ)代(だい) )

Thời Yamato kéo dài từ TK4 – năm 593. Đây là thời kỳ đầu của thời Cổ Đại (古(こだ)代(い)), chế độ Công xã nguyên thủy tan rã, Nhà nước và sự Phân chia giai cấp bắt đầu. Giai cấp cai trị là giới Hào tộc, sau này gọi là Quý tộc. Bắt đầu tiếp xúc với Văn hóa và Văn minh Trung Quốc. Đến năm 593, Thánh Đức Thái Tử làm Nhiếp chính, mở あすか ra thời Asuka (飛(あす)鳥(か))。

BÀI 4 : NHỮNG NGÔI MỘ CỔ古墳(こふん)

Vào khoảng TK4, những người có thế lực (hào tộc / 豪族(ごうぞく)) ở vùng YAMATO(大和(やまと)), bây giờ thuộc tỉnh NARA(奈良県(ならけん)) liên kết thành một quốc gia to lớn, và dựng lên Chính quyền Yamato. Chính quyền Yamato, từ TK 5 đến TK6, đã chỉnh đốn tổ chức chính trị ở Trung Ương, thành lập Nhà nước Yamato, và gọi người lãnh đạo Nhà nước này là Oikimi(大王(おおきみ)) Chính phủ này về sau được gọi là Triều Đình(朝廷(ちょうてい)), và oikimi được gọi là Thiên Hoàng(天皇(てんのう)). Những ngôi lăng mộ cổ(古墳(こふん)) của những kẻ có thế lực hiện nay vẫn còn tồn tại rất nhiều ở khắp nơi; trong đó ngôi 古墳lớn và cổ nhất nước Nhật hiện tọa lạc tại thành phố Sakai được truyền tụng là lăng mộ của Nhân Đức Thiên Hoàng(仁徳天皇(にんとくてんのう)), được xây dựng vào TK5, và được biết với tên là Nhân Đức Lăng(仁徳陵(にんとくりょう)/hoặc大山古墳(だいせんこふん)).

Những ngôi mộ cổ thời này phần nhiều có hình dáng “Trước Vuông Sau Tròn”(前方後円墳(ぜんぽうこうえんふん)). Quanh các ngôi mộ cổ, người ta đặt các thứ tượng đất nặng hình người, thú vật, nhà cửa, thuyền bè… gọi là haniwa(埴輪(はにわ)). Nhờ vào các haniwa và các vật tùy táng được khai quật từ các ngôi mộ cổ, mà chúng ta có thể biết được cách sinh hoạt của người đương thời.

Trong thế kỷ 5 ~ 6, nhiều người từ bán đảo Triều Tiên và lục địa Trung Quốc đã vượt biển sang sinh sống ở Nhật Bản. Người ta gọi những người nầy là Người Nhập Cư (渡来人(とらいじん))hay Người Nhập Tịch(帰化人(きかじん)). Chính phủ cho những người này làm những công việc xây dựng cầu đường, nuôi tằm, dệt vải… Những kẻ biết Chữ Hán thì Chính phủ cho làm những công việc thư ký, kế toán ở những công sở, hoặc nhờ họ soạn thảo các Văn thư ngoại giao. Qua họ, mà những tri thức và kỹ thuật tiên tiến được truyền bá sang Nhật, sinh hoạt của người Nhật cũng tiến bộ hơn nhiều. Nho giáo và các kinh thư, Phật giáo cùng các kinh điển và tượng Phật được truyền vào Nhật qua ngã Triều Tiên, cũng vào thời này. Tất cả những cái này đã trở thành cơ sở cho học vấn, tư tưởng, tôn giáo, nghệ thuật … của người Nhật.

Câu hỏi :

1/ Chính Quyền Yamato được thành lập vào thế kỷ thứ mấy? Và đến lúc nào thì họ đã chi phối đại bộ phận nước Nhật? Chính Quyền Yamato sau này được gọi là gì?

2/ Phần nhiều những 古墳có hình dáng như thế nào?

3/ Các 渡来人và 帰化人được Chính phủ Nhật cho làm những công việc gì?

4/ Nho giáo và phật giáo được truyền vào Nhật qua ngã nào? Vào thời nào?

BÀI 5 : PHÁP LONG TỰ (法隆寺(ほうりゅうじ))

Đến khoảng giữa TK6, các Hào tộc có thể lực mạnh đã tranh chấp nhau tại Triều Đình. Trong đó, hai giòng họ có thể lực cực mạnh là họ MONONOBE và họ SOGA (物(もの)部(の)氏(べし) và 蘇(そ)我(が)氏(し)) chống đối nhau kịch liệt. Cuối cùng, họ Soga là họ tán thành tín ngưỡng Phật giáo đã đánh bại họ Mononobe là họ phản đối tín ngưỡng nấy, và độc chiếm việc chính trị ở Triều Định.

Trong bối cảnh như vậy, THÁNH ĐỨC THÁI TỬ (聖(しょ)德(うと)太(くた)子(いし)) được cử làm Nhiếp Chính (摂(せっ)政(しょう)), một chức vụ thay mặt Thiên Hoàng để cai trị đất nước (năm 593). Thánh Đức Thái Từ hợp lực với các hào tộc như họ Soga để cùng cố nền tảng của nền chính trị ” Lấy Vua làm Trung Tâm” ( Quân chủ tập quyền), bằng cách :

* trước tiên, năm 603, Ông quy định 12 phẩm trật của các quan lại (冠(かん)位(い)十(じゅう)二(に)階(かい)) và chọn người người có tài năng làm quan lại.

* lại nữa, Ông đã tiếp thu những giáo điều của Nho giáo và Phật giáo để viết ra bản Hiến Pháp 17 Điều (憲(けん)法(ぽう)十(じゅう)七(しち)条(じょう)) vào năm 604. Dù mang tên là Hiến Pháp, nhưng nó không phải là một văn bản pháp quy tối cao của quốc gia như nghĩa của từ Hiến Pháp ngày nay, mà chỉ là một văn bản biểu thị tinh thần của các quan lại phụng sự Thiên Hoàng. Ví dụ như:「和(わ)が大(たい)切(せっ)である」 “Sự Hòa thuận là điều cần thiết” (Điều 1). 「仏(ほとけ)を敬(うやま)え」 “Hãy tôn kính Phật” (Điều 2).

* Thánh Đức Thái Tử lại còn nỗ lực tiếp thu văn hóa Trung Quốc bằng cách nhiều けんずい lần gởi sứ giả và du học sinh sang Nhà Tùy (遣(けん)隋(ずい)使(し)) vào những năm 600, 607, 608, 614.

Vì tin tưởng Phật giáo một cách sâu sắc, nên để mở rộng Phật giáo, Thánh Đức Thái Tử đã cho xây dựng chùa Pháp Long Tự  (法(ほう)隆(りゅ)寺(うじ)) ) ở 斑(いか)鳩(るが) thuộc xứ 大(や)和(まと) (năm 607). Ngôi chùa nấy đã một lần bị cháy (năm 670), nhưng đã được xây dưng lại ngay, và ngày nay nó đã trở thành một kiến trúc bằng gỗ cổ nhất thế giới. Ở chùa Pháp Long Tự, hiện còn lưu giữ nhiều tác phẩm mỹ thuật và nhiều công nghệ phẩm tuyệt tác, đặc biệt là bộ tượng Thích Ca Tam Tôn (釈(しゃ)迦(か)三(さん)尊(ぞん)像(ぞう)). Không chỉ ở chùa Pháp Long Tự, mà cả ở chùa Trung Cung Tự (中宮寺(ちゅうぐうじ)) ởNara (泰(な)良(ら)), chùa Quảng Long Tự (広(こう)隆(らゅ)寺(うじ)) ở Kyoto (京(きょう)都(と)) hiện vẫn còn giữ những pho tượng Di Lặc Bồ Tát (弥(み)勒(ろく)菩(ぼさ)薩(つ)像(ぞう)) tuyệt đẹp. Văn hóa của thời kỳ nầy, bởi vì nó phát triển rực rỡ ở vùng Asuka (飛(あす)鳥(か)) và Ikaruga (斑(いか)鳩(るが)), nên được gọi là Văn Hóa ASUKA (飛(あす)鳥(か)文(ぶん)化(か)). Nền Văn hóa Asuka chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Văn hóa Lục Địa; nhưng những phần ảnh hưởng của Văn hóa Tây Á và của Hy Lạp xa xôi cũng không ít.

Câu hỏi :

1/ Vào khoảng giữa TK6, ở Triều đình Yamato, 2 giòng họ nào có thể lực mạnh nhất?

2/ Anh Chị biết gì về 聖徳太子?

3/ Pháp Long Tự tỉnh cho tới nay đã tồn tại được bao nhiêu năm?

4/ Văn hóa Asuka : tại sao được gọi như thế? Nó chịu ảnh hưởng của nền văn hóa nào?

BÀI 6:  CUỘC CẢI CÁCH TAIKA ( 大(たい)化(か)の改(かい)新(しん) )

Sau khi Thánh Đức Thái Tử qua đời (622), thể lực của họ Soga (蘇我氏) lại càng mạnh hơn. Trong tình hình đó, Hoàng Thái Tử NAKA NO OE (中(なか)大(のお)兄(おえ)皇(のお)子(うじ))一 sau nầy lên ngôi, trở thành Thiên Trí Thiên Hoàng (天(てん)智(じ)天(てん)皇(のう)) – và một người hào tộc tên là NAKATOMI NO KAMATARI (中(なか)臣(とみの)鎌(かま)足(たり)) – sau nầy đổi họ, thành Fujiwara no Kamatari (藤(ふじわら)原(の)鎌(かま)足(たり)) – đã lật đổ họ Soga vào năm 645 (Taika nguyên niên), bắt đầu một giai đoạn chính trị mới.

 Người ta gọi chính biến nấy là Cuộc Cái Cách Taika.「大(たい)化(か)」 là niên hiệu của Thiên Hoàng lúc đó, và được chế định lần đầu tiên ở Nhật. Cuộc Cái Cách Taika muốn thiết lập một thể chế chính trị lấy Thiên Hoàng làm trung tâm, mô phỏng chế độ Triều Nhà Đường (618-907) của Trung Quốc. Cuộc Cải Cách nầy kéo dài khoảng 50 năm, cho tới lúc sắc luật “Đại Bảo Luật Lệnh” (大(たい)宝(ほうり)律(つ)令(りょう)) được ban a hành (701), mới hoàn thành.

Những cải cách chính trị quan trọng của Cải Cách Taika là “ Tất cả đất đai và dân chúng mà trước đây do giới Hào tộc cai trị, thì bây giờ sẽ do Thiên Hoàng cai trị ( chế độ 公(こう)地(ち) · 公(こう)民(みん)); còn giới Hào tộc mất đất và mất dân sẽ trở thành quan lại ở kinh đô hoặc ở địa phương. Ở Chính phủ Trung ương, đặt 2 chức quan và 8 Bộ (2管(かん)8省(しょう)); còn ở địa phương, Chính phủ bổ nhiệm những quan lại gọi là 国(こく)司(し), những quan lại này về các địa phương, hợp với giới Hào tộc bản địa để cai trị”. Tất cả mọi người dân đều phải đăng ký vào số hộ tịch; căn cứ vào đó Triều đình sẽ cấp cho một số ruộng đất nhất định gọi là Khẩu phân điền (口(く)分(ふん)田(でん)). Và họ phải nộp thuế (税(ぜい)) cho Triều đình bằng lúa hoặc vải vóc. Nếu người nầy chết, thì ruộng đất phải trả lại cho Triều đình ( luật Ban Điền / 班(はん)田(でん)収(しゅう)受(じゅ)の法(ほう)). Ngoài ra, đàn ông còn có nghĩa vụ làm việc ở những công trình cầu đường của kinh đô hay của địa phương ( lao dịch/ 労(ろう)役(えき)), và nghĩa vụ bảo vệ kinh đô và miền Kyushu ( binh dịch/ 兵(へい)役(えき)).

 

Câu hỏi :

1/ Cái cách Taika do ai tiến hành? Tại sao có cuộc Cải Cách nầy?

2/ Chế độ「公地 · 公民」là gì?

 3/「国司」là những ai?

4/ Chế độ「口分田」là gì?

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
X